Showing posts with label Online Marketing. Show all posts
Showing posts with label Online Marketing. Show all posts

Thursday, June 16, 2016

Mô hình O2O – Cơ hội hay Thách thức?

Đặt cược vào mô hình O2O – Online to Offline, một doanh nghiệp đang muốn xây dựng mạng lưới E-commerce cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Mô hình O2O hoạt động như thế nào?
Dealtoday.vn được khai trương vào tháng 1/2016 tại Việt Nam với mô hình thương mại điện tử O2O cung cấp giải pháp E-promotion và E-loyalty cho các doanh nghiệp SMEs Việt Nam. Với mô hình này, các doanh nghiệp SMEs sẽ đưa các sản phẩm, dịch vụ lên hệ thống Dealtoday.vn bao gồm Website, Wapsite, Mobile app và có thể chủ động tạo các chương trình xúc tiến như giảm giá, chiết khấu, tặng điểm linh hoạt theo thời gian, địa điểm, đối tượng khách hàng mục tiêu.
Khách hàng dễ dàng tìm được sản phẩm dịch vụ phong phú
Khách hàng dễ dàng tìm được sản phẩm dịch vụ phong phú
Khách hàng có nhu cầu mua sản phẩm, dịch vụ từ du lịch, nhà hàng, giải trí, học tập, đào tạo, thể thao, làm đẹp, chăm sóc sức khoẻ, y tế, vận tải hay mua sắm tại các trung tâm thương mại dễ dàng tìm kiếm ưu đãi của hàng ngàn doanh nghiệp tham gia mạng lưới Dealtoday.vn mọi lúc, mọi nơi.
Sau khi tìm được dịch vụ, sản phẩm ưa thích từ các thương hiệu uy tín, khách hàng mua trực tuyến trên Dealtoday.vn và nhận về mã E-voucher, E-coupon điện tử qua E-mail, SMS hay ứng dụng điện thoại để sử dụng dịch vụ, sản phẩm tại các điểm offline. Tại các điểm bán (offline merchant) nhân viên thu ngân sẽ xác thực mã ưu đãi trên hệ thống Dealtoday.vn dành cho đối tác. Mọi giao dịch đều là giao dịch điện tử được thực hiện trên môi trường trực tuyến Internet tức thời, không hạn chế về không gian và thời gian.
Ưu thế của sàn thương mại điện tử O2O
Ưu thế lớn của O2O so với các mô hình thương mại điện tử B2C và B2B2C chính là về chi phí: Không phát sinh chi phí cho vận chuyển, kho bãi và không cạnh tranh trực tiếp với hệ thống bán lẻ truyền thống. Hơn nữa, mô hình O2O như Dealtoday.vn cung cấp dịch vụ thông qua các giao dịch điện tử như E-voucher, E-coupon, E-loyalty dễ dàng mở rộng thị trường, tăng qui mô mà không đòi hỏi đầu tư lớn về hạ tầng.
Giải pháp thương mại điện tử hiện đại
Giải pháp thương mại điện tử hiện đại
Việc kết nối với các đối tác và khách hàng hoàn toàn trên Internet, thông tin và nội dung dịch vụ, sản phẩm được tạo ra một lần và có thể sử dụng lâu dài nên tiết kiệm được chi phí sản xuất nội dung. So với các mô hình B2C và B2B2C tập trung vào sản phẩm điện tử, gia dụng, thời trang thì việc Dealtoday.vn tập trung vào dịch vụ sẽ đơn giản và tiết kiệm chi phí hơn cho phần sản xuất nội dung như viết bài, chụp hình, thiết kế.
Thị trường tiềm năng của O2O
Theo Techinasia, thị trường thương mại điện tử Việt Nam được ước tính đạt trên 1 tỷ đô la Mỹ năm 2015, tăng trưởng trên 25%/năm và có tiềm năng đạt 5-7 tỷ. Việt Nam hiện có trên 91 triệu dân với 130 triệu thuê bao điện thoại, trên 43 triệu người sử dụng internet là thị trường tiềm năng cho thương mại điện tử, đặc biệt chưa có thương hiệu nào thực sự lớn và dẫn đầu thị trường.
Thương mại điện tử Việt Nam năm 2015 và đầu năm 2016 chứng kiến nhiều biến động lớn, một số doanh nghiệp phải đóng cửa và từ bỏ thị trường như foodpanda, beyeu.vn, deca.vn, giare.vn, các vụ Mua bán và Sát nhập (M&A) lớn như Alibaba mua Lazada, tập đoàn Central Group Thái Lan mua Zalora Việt Nam, VNG công ty game số 1 Việt Nam đầu tư 17triệu US$ vào Tiki.vn hay ông lớn bất động sản Vingroup tấn công thị trường thương mại điện tử với Adayroi.com… Làn sóng M&A đã đốt nóng thị trường thương mại điện tử mô hình B2C (Business to Customer) và B2B2C (Business to Business to Customer) ở Việt Nam.
Tuy nhiên nếu nhìn vào mảng thị trường 020, ngoài các site thương mại điện tử theo mô hình groupon/ coupon như hotdeal.vn, muachung.vn hiện nay đã lấn sang mảng B2C với các ngành hàng sản phẩm như thời trang, gia dụng, điện tử thì Việt Nam hiện nay chưa có tên tuổi lớn nào.
Số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam hiện đang ở khoảng 500.000 doanh nghiệp và tiếp tục tăng cùng với phong trào khởi nghiệp được Chính phủ quan tâm định hướng và hỗ trợ. Vì vậy mô hình kết nối khách hàng với các doanh nghiệp SMEs được đánh giá là đúng hướng và rất tiềm năng.
Nếu thành công, Dealtoday.vn nói riêng và mô hình O2O nói chung sẽ tạo nên bước tiến lớn cho thương mại điện tử vì nó tập trung vào các doanh nghiệp SMEs, đưa các doanh nghiệp SMEs lên môi trường E-commerce để tiếp cận khách hàng, mở rộng thị trường.
Đây cũng là vấn đề mà tự thân các doanh nghiệp SME không có đủ nguồn lực để thực hiện và nếu có thực hiện cũng khó hiệu quả do thiếu lợi thế về qui mô. Liệu Dealtoday.vn có tạo nên diện mạo mới cho bức tranh thương mại điện tử Việt nam nơi mà các ông lớn vẫn thể hiện sức mạnh về tài chính để tấn công thị trường theo mô hình B2C và B2B2C hay không? Thực tế sẽ cho chúng ta câu trả lời trong thời gian ngắn sắp tới.

Thursday, February 18, 2016

Xu hướng marketing mới: Content curation

Nội dung tự sáng tác nếu được duy trì đều đặn trong khoảng thời gian dài sẽ rất hữu ích cho các nỗ lực marketing của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây không phải là cách duy nhất và thực sự cần thiết cho mọi tổ chức.
Các nhà làm marketing (marketer) hiện đại đang tạo ra một xu hướng làm marketing mới - content curation (tạm dịch là chọn lọc và biên tập nội dung).
Phương thức hoạt động của content curation là lựa chọn thông tin, biên tập và xây dựng những nội dung bài viết mới dựa trên những nguồn thông tin có sẵn.
Theo đó, người viết lựa chọn những nguồn thông tin sẵn có, sắp xếp trên một bài viết về cùng một chủ đề hoặc thành nhiều chủ đề khác nhau trên blog, xuất bản bài viết và thực hiện chia sẻ bài viết đó trên các mạng xã hội như Facebook, Pinterest, Twitter, Slideshare…
Khi tiến hành một cách khéo léo, content curation là một cách để tổng hợp và chia sẻ những quan điểm và góc nhìn của nhiều người theo một cách hợp lý. Các nội dung mới mẻ này khác biệt ở chỗ nó có thêm những giá trị và sự đúc rút riêng của người viết. Tận dụng hiệu quả content curation, các công ty tạo cho mình hình ảnh của một nhà lãnh đạo tư tưởng với chuyên môn đỉnh cao.
Một khảo sát mới đây của Curata (trang web hỗ trợ chọn lọc và sáng tạo nội dung), 95% marketer được hỏi cho biết họ có chia sẻ nội dung của các tổ chức khác. Hầu hết các marketer dành phần lớn thời gian và công sức để tập trung vào việc chọn lọc và tổng hợp thông tin. Và dưới đây là những lý do chính:
Tạo dựng hình ảnh lãnh đạo tư tưởng
Xu hướng marketing mới không có chỗ cho những nhà điều hành thiếu sáng tạo. Ở thời đại bùng nổ thông tin, mỗi công ty đều cần duy trì hình ảnh là một tổ chức hoạt động dựa trên thông tin, và định hình bản thân là một nhà lãnh đạo tư tưởng. Để làm được điều này, mỗi cá nhân trước hết cần chứng minh những nhận định của bản thân là dựa trên những nguồn thông tin đáng tin cậy. Những nội dung tự sáng tác không thể tự chứng minh cho chính nó cũng như không thể khiến công ty trở thành một tổ chức lãnh đạo tư tưởng.
Với việc tiếp thu và chia sẻ các nguồn thông tin, các công ty tự đặt mình ở vị trí dẫn đầu xu hướng, tạo nên ảnh hưởng cho toàn bộ lĩnh vực. Sự chọn lọc và sử dụng thông tin mang lại cho công ty cơ hội hợp tác với nhiều đối tượng, gia tăng các mối quan hệ và xây dựng hình ảnh nhà lãnh đạo thực thụ.
Tăng tỷ lệ hiển thị, tiếp cận và gắn kết
Để có được mạng lưới khách hàng vững mạnh và trung thành, doanh nghiệp phải tận dụng được những nguồn lực đáng giá. Tuy nhiên, hơn 64% các marketer vẫn gặp khó khăn trong việc tạo nên những thông tin thực sự giá trị để đạt được mục đích này.
Một trong những cách tốt nhất để gia tăng tỷ lệ tiếp cận (reach) và gắn kết (engagement) trên các kênh truyền thông xã hội là chia sẻ những bài viết có liên quan và phù hợp với thị hiếu. Đó là những nội dung mà người đọc thực sự quan tâm, chủ động tìm kiếm và muốn hấp thu. Ví dụ, chia sẻ các video là cách làm hiệu quả trong content curation. Những post có kết hợp với video sẽ tạo ra nhiều lượt click hơn gấp 3 lần so với những post chỉ có chữ không.

Tóm lại, một trong những lý do chính khiến bạn phải đầu tư vào content marketing ngay từ đầu là bạn có thể dẫn dắt những chủ đề bàn luận về các vấn đề được các followers (người theo dõi) và bạn bè quan tâm. Và chia sẻ những câu chuyện hay là một cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó.
Tiết kiệm thời gian và chi phí
Thật khó có thể sáng tạo những nội dung độc đáo nếu không được đầu tư đủ những tài liệu và thông tin cần thiết. Theo một khảo sát gần đây của trang Marketing Professionals, gần một nửa các marketers được hỏi thừa nhận rằng họ khó có thể sáng tạo được nội dung bởi tổ chức của họ không chia sẻ đủ các thông tin cần thiết.
Sáng tạo những nội dung mới một cách đều đặn là một thách thức đối với tất cả các công ty. Sử dụng những tài liệu sẵn có giúp giảm bớt gánh nặng công việc và giúp định vị những mối quan tâm thật sự của các đối tượng mục tiêu.
Đẩy mạnh làm SEO
Ngày nay, sự hiện diện trên môi trường trực tuyến là yếu tố quan trọng quyết định thành công của một doanh nghiệp. Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (Search engine optimization - SEO) chịu sự chi phối của khá nhiều yếu tố, bao gồm sự cân bằng giữa các nội dung curation và các nội dung tùy chỉnh chất lượng cao trên các website, blog, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác.
Theo khảo sát, hơn 50% người được hỏi cho rằng những nội dung curation làm gia tăng thứ hạng tìm kiếm của họ cũng như lưu lượng truy cập trang web.
Cũng nên lưu ý rằng curation thường chỉ có hiệu quả khi được quản lý tốt. Ví dụ, nội dung do người dùng tạo ra là một trong những hình thức tốt nhất của curation giúp gia tăng hiệu quả tích cực của SEO, nội dung đó bao gồm video, hình ảnh, đánh giá và các tài liệu bằng văn bản.
Cải thiện tương tác truyền thông xã hội
Cách mà các thương hiệu truyền thông trên các trang mạng xã hội rất khác so với khi họ sử dụng email, sách trắng (white paper) hay các kênh khác. Một thông tin đơn nhất là không đủ cho mạng xã hội. Một số content marketer sử dụng "quy tắc số ba" để tối ưu hóa hiệu quả của các xuất bản (post).

Quy tắc này chia tách nội dung theo ba cách: thông tin hoặc thông báo khuyến mãi sản phẩm/dịch vụ; các câu chuyện cá nhân, tương tác, dựng thương hiệu; và chia sẻ thông tin từ các nguồn khác. Khía cạnh cuối cùng và không kém phần quan trọng của quy tắc này là truyền bá các nội dung chuyên sâu và có giá trị trong lĩnh vực chuyên môn với những người không kết nối với thương hiệu.
Việc làm trên là đặc biệt quan trọng bởi nó cho thấy bạn thật sự nghiêm túc với những gì mình chia sẻ chứ không chỉ nhìn vào cái lợi trước mắt mà “bán đứng” khách hàng.
Các marketer đang gặp phải những áp lực không nhỏ trong việc sáng tạo ra những nội dung độc đáo. Curation cho phép nhiều doanh nghiệp tự tạo nên những nội dung chất lượng cao, dễ chia sẻ đồng thời cải thiện sự tương tác xã hội và loại bỏ các chi phí liên quan đến việc sáng tạo các nội dung từ đầu.

Friday, December 25, 2015

[Infographic] Đâu là xu thế tiếp thị cho năm 2016?

Xu hướng của người tiêu dùng luôn thay đổi theo xu thế phát triển của công nghệ trong năm 2015. Vì vây, năm 2016 được dự đoán là năm cực thịnh với nội dung tùy chỉnh, video độc đáo, và các trang web tương thích với trình duyệt di động. Đây là cơ hội để cho ra đời những sản phẩm công nghệ cao. Với hơn tỉ người dùng điên thoại thông minh trong năm 2016 và hơn 90% nhà tiếp thị học cách tương tác hướng dẫn người tiêu dùng, tối ưu hóa thiết bị di động là một trong những chìa khóa mang lại thành công cho chiến lược trong năm tới.
Tiếp thị nội dung tạo lớp khách hàng tiềm năng gấp 3 lần so với tiếp thị truyền thống trong khi chi phí thấp hơn 62%. Vậy cần tiến hành tiếp thị nội dung trong năm 2016 như thế nào? Infographic sau đây sẽ cho bạn câu trả lời.

Friday, June 19, 2015

Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

Mô hình cạnh tranh hoàn hảo ngụ ý rằng tốc độ điều chỉnh lợi nhuận theo mức rủi ro là tương đương nhau giữa các doanh nghiệp và ngành kinh doanh. Tuy nhiên, vô số nghiên cứu kinh tế đã khẳng định rằng các ngành khác nhau có thể duy trì các mức lợi nhuận khác nhau và sự khác biệt này phần nào được giải thích bởi cấu trúc khác nhau của các ngành.

mo-hinh-5-ap-luc-michael-porter-five-forces

Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh. Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động.
Michael-Porter

Mô hình Porter’s Five Forces được xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình này, thường được gọi là “Năm lực lượng của Porter”, được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận. Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.

Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó không. Tuy nhiên, vì môi trường kinh doanh ngày nay mang tính “động”, nên mô hình này còn được áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần được cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn. Các cơ quan chính phủ, chẳng hạn như Ủy ban chống độc quyền và sát nhập ở Anh, hay Bộ phận chống độc quyền và Bộ Tư pháp ở Mỹ, cũng sử dụng mô hình này để phân tích xem liệu có công ty nào đang lợi dụng công chúng hay không.

Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:

1. Sức mạnh nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Mức độ tập trung của các nhà cung cấp,
- Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp,
- Sự khác biệt của các nhà cung cấp,
- Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm,
- Chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành,
- Sự tồn tại của các nhà cung cấp thay thế,
- Nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp,
- Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành.

2. Nguy cơ thay thế thể hiện ở:
- Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm,
- Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng,
- Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.

3. Các rào cản gia nhập thể hiện ở:
- Các lợi thế chi phí tuyệt đối,
- Sự hiểu biết về chu kỳ dao động thị trường,
- Khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào,
- Chính sách của chính phủ,
- Tính kinh tế theo quy mô,
- Các yêu cầu về vốn,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Các chi phí chuyển đổi ngành kinh doanh,
- Khả năng tiếp cận với kênh phân phối,
- Khả năng bị trả đũa,
- Các sản phẩm độc quyền.

4. Sức mạnh khách hàng thể hiện ở:
- Vị thế mặc cả,
- Số lượng người mua,
- Thông tin mà người mua có được,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Tính nhạy cảm đối với giá,
- Sự khác biệt hóa sản phẩm,
- Mức độ tập trung của khách hàng trong ngành,
- Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế,
- Động cơ của khách hàng.

5. Mức độ cạnh tranh thể hiện ở:
- Các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành,
- Mức độ tập trung của ngành,
- Chi phí cố định/giá trị gia tăng,
- Tình trạng tăng trưởng của ngành,
- Tình trạng dư thừa công suất,
- Khác biệt giữa các sản phẩm,
- Các chi phí chuyển đổi,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh,
- Tình trạng sàng lọc trong ngành.

Phân tích năm lực lượng cạnh tranh
1. Mức độ cạnh tranh (Degree of Rivalry)
Trong mô hình kinh tế truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đối thủ đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp không ngây thơ đến mức chịu chấp nhận giá một cách thụ động. Trên thực tế, các hãng đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ của mình. Cường độ cạnh tranh thay đổi khác nhau tùy theo từng ngành, và các nhà phân tích chiến lược rất quan tâm đến những điểm khác biệt đó.

Các nhà kinh tế đánh giá khả năng cạnh tranh theo các chỉ số về mức độ tập trung của ngành, và tỷ lệ tập trung (Concentration Ration – CR) là một trong những chỉ số phải kể đến đầu tiên. Chỉ số này cho biết phần trăm thị phần do 4 hãng lớn nhất trong ngành nắm giữ. Ngoài ra còn có chỉ số CR về tỷ lệ thị trường do 8, 25 và 50 hãng đầu ngành kiểm soát. Chỉ số càng cao cho thấy mức độ tập trung thị phần vào các hãng lớn nhất càng lớn, đồng nghĩa với việc ngành đó có mức độ tập trung cao. Nếu chỉ có một số hãng nắm giữ phần lớn thị phần, thì ngành sẽ mang tính cạnh tranh ít hơn (gần với độc quyền bán). Tỷ lệ tập trung thấp cho thấy ngành có rất nhiều đối thủ, trong đó không có đối thủ nào chiếm thị phần đáng kể. Các thị trường gồm nhiều “mảnh ghép” này được cho là có tính cạnh tranh. Tuy nhiên, tỷ lệ tập trung không phải là chỉ số duy nhất, bởi vì xu hướng định nghĩa ngành mang nhiều thông tin hơn so với sự phân bố thị phần.

Nếu mức độ cạnh tranh giữa các hãng trong một ngành thấp, thì ngành đó được coi là “có kỷ luật”. Kỷ luật này có thể là kết quả của lịch sử cạnh tranh trong ngành, vai trò của hãng đứng đầu, hoặc sự tuân thủ với các chuẩn mực đạo đức chung. Sự câu kết giữa các công ty nhìn chung là không hợp pháp. Trong những ngành có mức độ cạnh tranh thấp, các động thái cạnh tranh chắc chắn bị hạn chế một cách không chính thức. Tuy nhiên, một công ty không chấp nhận tuân thủ luật lệ mà tìm kiếm lợi thế cạnh tranh có thể làm mất đi cái thị trường “có kỷ luật” đó.
Khi một đối thủ hành động theo cách khiến các hãng khác buộc phải trả đũa, thì tính cạnh tranh ở thị trường đó sẽ tăng lên. Cường độ cạnh tranh thường được miêu tả là tàn khốc, mạnh mẽ, vừa phải, hoặc yếu, tùy theo việc các hãng nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến mức nào.

Để có được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, một doanh nghiệp có thể chọn một số động thái cạnh tranh như sau:
- Thay đổi giá
– tăng hoặc giảm giá để có được lợi thế ngắn hạn.
- Tăng sự khác biệt của sản phẩm
– cải thiện các đặc tính, đổi mới quá trình sản xuất và đổi mới sản phẩm.
- Sử dụng các kênh phân phối một cách sáng tạo
– dùng hội nhập theo chiều dọc hoặc sử dụng một kênh phân phối mới chưa có trong ngành. Chẳng hạn như trong ngành buôn bán kim hoàn, các cửa hàng kim hoàn cao cấp ngần ngại không bán đồng hồ, hãng Timex đã chuyển tới các cửa hàng thuốc và các đại lý không truyền thống khác. Nhờ đó, hãng đã hoàn toàn làm chủ thị trường đồng hồ có giá từ thấp đến trung bình.
- Khai thác mối quan hệ với các nhà cung cấp – ví dụ, từ những năm 1950 – 1970, hãng Sears, Roebuck và Co. chi phối thị trường hàng gia dụng bán lẻ. Sears đã đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng cao và yêu cầu các nhà cung cấp phải đáp ứng các yêu cầu về chỉ số kỹ thuật và giá sản phẩm của họ.

Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:

Số lượng công ty lớn. Số lượng công ty lớn làm tăng tính cạnh tranh, vì có nhiều hãng hơn trong khi tổng số khách hàng và nguồn lực không đổi. Tính cạnh tranh sẽ càng mạnh hơn nếu các hãng này có thị phần tương đương nhau, dẫn đến phải “chiến đấu” để giành vị trí chi phối thị trường.

Thị trường tăng trưởng chậm. Đặc điểm này khiến các hãng phải cạnh tranh tích cực hơn để chiếm giữ thị phần. Trong một thị trường tăng trưởng cao, các hãng có khả năng tăng doanh thu có thể chỉ do thị trường mở rộng.

Các chi phí cố định cao. Chi phí cố định cao thường tồn tại trong một ngành có tính kinh tế theo quy mô, có nghĩa là chi phí giảm khi quy mô sản xuất tăng. Khi tổng chi phí chỉ lớn hơn không đáng kể so với các chi phí cố định, thì các hãng phải sản xuất gần với tổng công suất để đạt được mức chi phí thấp nhất cho từng đơn vị sản phẩm. Như vậy, các hãng sẽ phải bán một số lượng rất lớn sản phẩm trên thị trường, và vì thế phải tranh giành thị phần, dẫn đến cường độ cạnh tranh tăng lên.

Chi phí lưu kho cao hoặc sản phẩm dễ hư hỏng. Đặc điểm này khiến nhà sản xuất muốn bán hàng hóa càng nhanh càng tốt. Nếu cùng thời điểm đó, các nhà sản xuất khác cũng muốn bán sản phẩm của họ thì cuộc cạnh tranh giành khách hàng sẽ trở nên dữ dội.

Chi phí chuyển đổi hàng hóa thấp. Khi một khách hàng dễ dàng chuyển từ sử dụng sản phẩm này sang sản phẩm khác, thì mức độ cạnh tranh sẽ cao hơn do các nhà sản xuất phải cố gắng để giữ chân khách hàng.

Mức độ khác biệt hóa sản phẩm thấp. Đặc điểm này luôn dẫn đến mức độ cạnh tranh cao. Ngược lại, nếu sản phẩm của các hãng khác nhau có đặc điểm hàng hóa khác nhau rõ rệt sẽ giảm cạnh tranh.

Khả năng thay đổi chiến lược cao. Khả năng thay đổi chiến lược cao xảy ra khi một hãng đang mất dần vị thế thị trường của mình, hoặc có tiềm năng giành được nhiều lợi nhuận hơn. Tình huống này cũng làm tăng tính cạnh tranh trong ngành.

Các rào cản “thoát ra” cao. Đặc điểm này khiến doanh nghiệp phải chịu một chi phí cao, nếu muốn từ bỏ không sản xuất sản phẩm nữa. Vì thế hãng buộc phải cạnh tranh. Rào cản này làm cho một doanh nghiệp buộc phải ở lại trong ngành, ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi lắm. Một rào cản phổ biến là tính đặc trưng của tài sản cố định. Khi nhà máy và thiết bị có tính chuyên môn hóa cao thì khó có thể bán các tài sản đó cho những ngành khác. Việc hãng Litton Industries giành được các thiết bị của hãng đóng tàu Ingall Shipbuilding minh họa rõ điều này. Litton đã rất thành công trong thập kỷ 1960 với các hợp đồng đóng tàu cho Hải quân. Nhưng khi chi quốc phòng của Mỹ giảm xuống, Litton nhận thấy rõ khả năng giảm doanh số cũng như lợi nhuận. Hãng quyết định cơ cấu lại, nhưng việc từ bỏ xưởng đóng tàu không thực hiện được, do không bán được các thiết bị đóng tàu đắt tiền và mang tính chuyên môn hóa cao. Cuối cùng, Litton buộc phải ở lại trong thị trường đóng tàu đang xuống dốc.

Những mô hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay

Mặc dù hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ nhưng khi được hỏi thì nhiều người vẫn không hề biết bán lẻ có những mô hình nào và đơn vị kinh doanh của mình thuộc vào loại hình nào. Cũng chính vì sự thiếu hụt các kiến thức cơ bản này nên các chủ cửa hàng không có chiến lược phát triển phù hợp để tối đa hóa lợi nhuận. Bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả một cái nhìn chi tiết về những mô hình bán lẻ đang tồn tại phổ biến.

1. Mô hình bán lẻ qua cửa hàng

Loại hình này bao gồm các cửa hiệu độc lập, các trung tâm thương mại, các cửa hàng tạp hoá, các cửa hàng chuyên dụng, các siêu thị truyền thống,… Những nhà bán lẻ qua cửa hàng luôn có địa điểm cố định để thu hút được một lượng khách lớn vào tham quan, mua sắm. Họ thường bày bán nhiều loại hàng hoá và các cửa hàng quy mô lớn như trung tâm mua sắm sẽ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để quảng cáo. Đặc thù của họ là phục vụ nhu cầu của cá nhân và gia đình là chính. Tuy nhiên cũng vẫn có những nơi chuyên kinh doanh các mặt hàng chuyên biệt cho các tổ chức, doanh nghiệp như các cửa hàng văn phòng phẩm, các cửa hàng máy tính và phần mềm, các cửa hàng vật liệu xây dựng, các cửa hàng vật tư điện nước, cửa hàng cật dụng xây dựng.

2. Mô hình bán lẻ chuyên biệt

Một chuyên gia đã nhân định rằng “Trong khi các nhà bán lẻ lớn như Wal-Mart hay Target có xu hướng bán những thứ mà người tiêu dùng ‘cần’ thì các đơn vị bán lẻ chuyên biệt lại nhắm đến những thứ mà người tiêu dùng ‘muốn’”. Mô hình này cải tiến hơn mô hình trên một chút bởi họ chú trọng đầu tư hơn tới những tiện ích, những trải nghiệm khi mua sắm, những nhu cầu cụ thể của khách hàng. Đây là chiến lược để họ có thể tồn tại trước sự cạnh tranh gay gắt của các cửa hàng bán lẻ quy mô lớn, của các website kinh doanh, của trào lưu thương mại điện tử. Mặc dù bị sức ép lớn nhưng các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt vẫn có lượng khách hàng riêng nỗ lực không ngừng đem tới sự ấm cúng, gần gũi hơn và cung cấp chủng loại hàng hoá phong phú, chuyên dụng hơn. Hầu hết các cửa hàng chuyên biệt đều có qui mô nhỏ, không quá đông nhân viên, thậm chí là chủ kiêm nhân viên bán hàng. Chính vì vậy nên mô hình nà không cần quá nhiều trang thiết bị để vận hành, thông thường họ chỉ cần tới sự hỗ trợ của một phần mềm quản lý bán hàng để hoạt động trơn tru nhất. Lưu ý với những ai muốn sở hữu mô hình này thì nên cẩn trọng trong việc lưu hành vốn, chọn lựa địa điểm và nghiên cứu kĩ càng về thị trường tiềm năng.

3. Mô hình bán lẻ không qua cửa hàng

Lĩnh vực này trị giá tới 123 tỷ USD, mô hình này không có cửa hàng cố định, giao dịch chủ yếu thông qua tivi, internet, qua máy bán hàng hay quầy lưu động…Ngoại trừ máy bán hàng, tất cả các loại hình bán lẻ này đều không có địa điểm hay cửa hàng cố định để bày bán hàng. Ưu điểm của lĩnh vực này là không phải nhập hàng, trữ hàng với số lượng lớn. bạn có thể chỉ nhập hàng mẫu để khách xem hoặc lấy ảnh của nhà cung cấp để cho khách xem, khi nào khách hàng ưng ý thì bạn mới liên lạc để lấy hàng. Nhược điểm là bạn không thể kiểm soát được lượng hàng nên hơi thụ động, nhiều trường hợp khách hàng cần thì hàng trong kho đã hết hoặc không sản xuất nữa.
nhung-mo-hinh-ban-le-pho-bien-nhat2

4. Mô hình bán lẻ thông qua bưu chính

Người mua có thể đặt hàng qua điện thoại hoặc trang web và sản phẩm sẽ được giao qua đường bưu điện. Hình thức này khá phổ biến với những người sống xa khu vực mua sắm, những người già cả và những người không muốn mua hàng trực tiếp. Doanh nghiệp bán hàng sẽ thiết kế và in catalog/tờ rơi rồi đồng thời gửi đến vài ngàn khách hàng để họ lựa chọn và đăng ký mua sản phẩm.
Bán lẻ qua bưu chính thường được các doanh nghiệp áp dụng cho những hàng hóa thông thường, hàng hóa chuyên biệt, hàng hóa mới lạ, hàng đặt mua dài hạn (CD, DVD, sách báo) … Nó không đòi hỏi doanh nghiệp phải có văn phòng, cửa hàng hay nhà kho nhưng nhất thiết phải nắm được địa chỉ khách hàng để gửi catalo và có hệ thống nhận đặt hàng và giao hàng. Ở Việt Nam các siêu thị điện máy thường tích hợp phương pháp bán hàng này để đạt hiệu quả cao hơn.

5. Mô hình bán hàng online

Mạng internet đã góp phần thay đổi diện mạo của ngành bán lẻ, nó cũng là chất keo kết nối doanh nghiệp, thị trường với cá nhân người tiêu dùng. Bất kì một chuyên gia phân tích nào cũng thừa nhận rằng những nhà bán lẻ nào không hiểu được tầm ảnh hưởng của internet thường sẽ ít đầu tư phát triển các kênh bán qua mạng và vậy là họ đã bó lỡ một cơ hội quan trọng để tăng doanh thu bán hàng. Ngay cả đến những nhà cung cấp và phát triển các phần mềm quản lý bán hàng cũng đã thiết lập thêm chức năng tích hợp quản lý website bán hàng online để thỏa mãn nhu cầu bán hàng hiệu quả cho người tiêu dùng. Rất nhiều đơn vị bán hàng thông qua của hàng cũng đã vận hành song song hai mô hình bán hàng online và offline.
nhung-mo-hinh-ban-le-pho-bien-nhat1

6. Mô hình máy bán hàng tự động

Loại hình bán lẻ này phổ biến ở các quốc gia phát triển và đã có mặt ở Mĩ gần một thế kỷ nay và tỏ ra khá hiệu quả. Cũng giống như các hình thức bán hàng khác, chìa khóa thành công cho doanh nghiệp bán hàng qua máy là chọn đúng thời điểm, vị trí và chủng loại sản phẩm. Loại hình kinh doanh này hấp dẫn ở chỗ doanh nghiệp không tốn phí đầu tư và vận hành mà lại nhanh chóng thu được thu tiền mặt. Người tiêu dùng cũng khá ưa chuộng hình thức này bởi tính tiện lợi, tiện dụng của nó.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Powerade Coupons